Hội thảo quốc tế về “Ứng dụng CNTT và Quản lý” tại Đà Nẵng: Hướng đến kỳ họp chung về chủ đề “Tương lai Châu Á”

Cập nhật ngày: 03/02/2018
        Xem với cỡ chữ    
Các chủ đề chính: Công nghệ thông minh - Đổi mới kinh doanh- Học tập điện tử và Du lịch hiện đại

(ictdanang)– Ngày 3/2/2018, Trường Đại học Đông Á cùng Hiệp hội cơ sở dữ liệu Hàn Quốc (KDBS), Hiệp hội Công nghệ thông tin và Quản lý quốc tế (IITAMS) đã đồng tổ chức Hội thảo quốc tế lần thứ 19 về “Ứng dụng Công nghệ thông tin và Quản lý” (gọi tắt là ITAM). Đây cũng là phiên hội thảo khoa học quốc tế chuẩn bị cho kỳ họp chung về chủ đề “Tương lai Châu Á”.

Các diễn giả chụp ảnh lưu niệm trong lần Hội thảo quốc tế lần XIX “Ứng dụng CNTT và Quản lý”, một trong những hoạt động hướng đến kỳ họp chung về chủ đề “Tương lai Châu Á” diễn ra tại Đà Nẵng từ ngày 3 đến ngày 7/2/2018.

Chủ đề của Hội thảo lần này tập trung vào “Công nghệ thông minh - Đổi mới kinh doanh - Học tập điện tử và Du lịch hiện đại”. Hội thảo đã quy tụ giới nghiên cứu đến từ các quốc gia có nền công nghệ thông tin phát triển ưu việt như Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Trung Quốc, Autraslia,....

Hội thảo đã làm việc với 12 phiên chuyên đề với tổng cộng 43 báo cáo của 98 chuyên gia quốc tế đến từ 18 quốc gia trên thế giới (Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Canada, Đài Loan, Nepal, Pháp, Trung Quốc, New Zealand, Kenya, Úc, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Nhật Bản, Anh, Việt Nam), cùng sự tham gia của nhiều học giả từ các Viện Nghiên cứu, các trường đại học, các khoa chuyên ngành về Công nghệ thông tin và Quản lý ở Việt Nam.

Xuyên suốt hội thảo là những góc nhìn đa chiều, những phân tích vừa tổng quan vừa cụ thể về các chủ đề: Cộng đồng mạng, công nghệ thông tin và công nghiệp, nhân lực, công cụ học trực tuyến, thiết kế công nghệ, du lịch hiện đại, viễn cảnh chiến lược, phương pháp nghiên cứu, quản lý dịch vụ, quản trị vùng và thực hành xã hội.

Tiếp sau phiên làm việc chung và 12 phiên làm việc chuyên đề ngày 3/2 là chuỗi liên tiếp các phiên làm việc của các chuyên gia quốc tế về các chủ đề "Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và ảnh hưởng đến Việt Nam", "Tương lai châu Á – Góc nhìn quản trị" được tổ chức từ ngày 4-7/2/2018 cũng tại Đại học Đông Á.

Được biết, Hội thảo là diễn đàn thường niên của những người công tác nghiên cứu, ứng dụng, giảng dạy và quản lý trong lĩnh vực công nghệ thông tin và quản trị trao đổi học thuật, chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng và tìm kiếm sự hợp tác, phát triển đa phương. Qua đó sẵn sàng xúc tiến hợp tác nhiều mặt dựa trên thế mạnh của từng thành viên trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, đặc biệt là chia sẻ sáng kiến và chuyển giao công nghệ mang tính ứng dụng cao thuộc các lĩnh vực công nghệ thông tin và quản lý.

ICT Đà Nẵng trân trọng giới thiệu cùng độc giả tư liệu đáng tham khảo qua các báo cáo chuyên đề tại Hội thảo (trong phần tiếp theo dưới đây).

Đó là “Những thách thức của dữ liệu lớn (big data) và internet kết nối vạn vật (IoT) đến môi trường kinh doanh của công nghệ thông tin và truyền thông tại Việt Nam”; Chủ đề “Du lịch hiện đại”, với báo cáo khoa học đáng chú ý “Ảnh hưởng của thiết bị công nghệ đối với sự phát triển của ngành du lịch ở Nepal”.

Cùng với chủ đề nóng liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực trong bối cảnh mới, trong đó “E-learning – Học tập điện tử” tiếp tục được nhấn mạnh; cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ và ảnh hưởng tích cực, tác động không nhỏ đến giáo dục. Tại hội thảo, một báo cáo tham luận cũng đề cập đến yêu cầu: Giáo viên phải tiếp cận, thích ứng và thực hành ứng dụng vào phương pháp giảng dạy. Bên cạnh đó còn có chuyên đề “Đổi mới kinh doanh”.

Trần Ngọc - Phương Chi

THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ TẠI CÁC PHIÊN BÁO CÁO

Chủ đề: IoT - CNTT

Báo cáo “Những thách thức của dữ liệu lớn (big data) và internet kết nối vạn vật (IoT) đến môi trường kinh doanh của công nghệ thông tin và truyền thông tại Việt Nam”của TS. Đỗ Văn Tuấn, Đại học Đông Á, Đà Nẵng đã chỉ ra những lợi ích và thử thách của internet(IoT) đối với môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

Với tốc độ phát triển internet như hiện nay, đặc biệt là sự phát triển của mạng di động, mạng lưới băng thông di động nhanh, IoT đóng một vai trò quyết định sự thay đổi trong tư duy và văn hóa kinh doanh, giúp các công ty giữ vị trí tiên phong trong cạnh tranh hay ít nhất là có thể tồn tại.

Hiện nay, các thiết bị đều được kết nối với nhau, việc chia sẻ thông tin trở nên dễ dàng và phổ biến hơn, trong đó dữ liệu là một trong những yếu tố quan trọng và có giá trị nhất của mỗi công ty cần phải được bảo mật. Do vậy, báo cáo cũng chỉ ra một số giải pháp phù hợp đối với doanh nghiệp để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hiện nay ở Việt Nam như điện toán đám mây, xác định cơ hội kinh doanh trong việc tái xây dựng cấu trúc mạng lưới truyền thông hướng đến chất lượng 4G, 5G khi mà hiện nay, mạng lưới truyền thông gần như quá tải. Do vậy, đây cũng là cơ hội và thách thức cho những ai đang có ý tưởng khởi nghiệp.

Trong một báo cáo khác của 3 nhà nghiên cứu Do Sinh và Hồ Đức Lĩnh, Đặng Văn Nghĩa đến từ trường Đại học Quốc gia Chiao Tung, Đài Loan và Đại học Đông Á, Đà Nẵng, Việt Nam với chủ đề “Mạng điều khiển bằng phần mềm – một cách tiếp cận cho IoT” đã tiếp cận và giới thiệu một mô hình kỹ thuật tiên tiến cho hệ thống mạng lưới trong tương lai và của mạng lưới điều khiển bằng phần mềm trong triển khai IoT.

Qua đó, phân tích cho thấy các thiết bị thông minh hiện nay như laptop, điện thoại thông minh, máy tính bảng, các thiết bị gia dụng khi tương tác với nhau thông qua mạng internet đã tạo ra một lượng dữ liệu tổng hợp rất lớn, từ đó đặt ra vấn đề về các yêu cầu cao về kỹ thuật, tốc độ xử lý cao trong môi trường kết nối đồng quy hỗn tạp.

Theo đó, những hệ thống mạng lưới hiện thời như IEEE802.11, IEEE802.03 và 4G-LTE với những hạn chế như thiết bị đắt tiền, quy trình kiểm soát phức tạp, giới hạn cổng giao tiếp đã trở thành rào cản trong việc triển khai IoT đến các ứng dụng. Trong bối cảnh  hiện nay, việc sử dụng mạng điều khiển bằng phần mềm được xem là giải pháp tối ưu nhằm cải cách hệ thống mạng lưới kỹ thuật và được mong đợi trở thành một mô hình cơ sở hạ tầng mạng lưới đáp ứng cho các yêu cầu phát triển ứng dụng IoT. Hệ thống mạng lưới bằng phần mềm được thực hiện cho hệ thống mạng như một mô hình mới đa nhiệm và hệ thống wifi truyền dữ liệu tốc độ cao được cài đặt và phân chia cho nhiều mục đích ứng dụng khác nhau của IoT dựa trên nguyên lý mạng điều khiển bằng phần mềm (SDN).

TS Namjae Cho - Đại diện Hội đồng cố vấn IITAMS – Trưởng BTC Hội thảo - và phiên báo cáo của ông tại ITAM 2018, Đà Nẵng, Việt Nam.


Cũng trao đổi về vấn đề này, nhà nghiên cứu Sean Watt và Doan Dang, ĐH Quốc tế Miền Đông, Bình Dương, Việt Nam đã dựa trên mô hình nổi tiếng UTAUT2 để đề xuất thêm 3 nhân tố chính trong nhận thức của người sử dụng gồm: giá trị nhận thức, những rủi ro được nhận biết và tính cải cách để giải thích ý định của người dùng cho việc sử dụng các sản phẩm và dịch vụ dựa trên nền tảng IoT.

Kết quả khảo sát trên nền tảng IoT tại TP.Hồ Chí Minh cho biết, 80% người sử dụng có ý định sử dụng các sản phẩm và dịch vụ dựa trên nền tảng IoT. Từ đó đưa ra dự đoán rằng, cùng với sự phát triển của công nghệ sẽ tạo sự ảnh hưởng rất lớn về tiêu thụ công nghệ trong thời gian sắp tới.

Theo đó, ý định của người dùng trong việc sử dụng IoT được dự đoán với 5 yếu tố: tính đổi mới của người dùng, những giá trị được nhận thức, sự thể hiện như mong đợi, ảnh hưởng xã hội và sự tận hưởng.

Ngoài ra, nhiều học giả cũng đưa ra nhiều giải pháp đối với người sử dụng nhằm đảm bảo được yếu tố bảo mật và sở hữu trí tuệ trong xu hướng bùng nổ thông tin như hiện nay. Báo cáo trình bày và phân tích “Phương thức ghép kênh phân chia thời gian của các dãy chèn phi tuyến tính” đã nghiên cứu các công cụđược sử dụng trong phân tích các đặc điểm của các dãy đặc biệt nhằm sử dụng trong phương thức truyền thông hiện đại, mật mã hóa, mã dấu chìm… 2 phương pháp được giới thiệu có thể sử dụng trong tất cả các lớp của dãy số chèn gồm: phương pháp cấu trúc đại số và tổ hợp dùng cho việc xuất và phân tích các dãy và phương pháp ghép kênh phân thời gian dựa trên giao thức chuyển tiếp D hoặc định hướng phần cứng.

Trước nhu cầu một lượng lớn dữ liệu được tạo ra khi di chuyển bằng các thiết bị thông minh nhưng làm thế nào để trích xuất thông tin một cách hiệu quả, một bộ công cụ với tên gọi Matlab đã được 2 nhà nghiên cứu Sean Watt và Đỗ Văn Tuấn giới thiệu.

Trong khi đó, bài báo khoa học “Phát triển bộ công cụ MatLab cho việc tiếp cận giám sát trạng thái máy”, đã cung cấp những thông tin hữu ích về việc quản lý và vận hành các thiết bị di chuyển ở nhiều trạng thái khác nhau, các công cụ được phát triển này sẽ tạo ra hiệu quả hữu hiệu trong việc chuyển đổi lượng dữ liệu khổng lồ thành thông tin dễ dàng, giúp những nhà nghiên cứu, kỹ sư sử dụng có thể phát triển sản phẩm, vận hành thiết bị, bảo trì và đưa ra các quyết định quản lý.

Bộ công cụ Matlab bao gồm các thành phần dùng cho phân tích được chia thành 5 phần cụ thể gồm: giới thiệu hướng dẫn cài đặt bộ công cụ vào môi trường làm việc Matlab, xử lý dữ liệu, cung cấp các công cụ để định dạng dữ liệu, truy nhập và xuất dữ liệu, trích xuất các đặc điểm của dữ liệu, các thức phân tích dữ liệu để xây dựng các ứng dụng một cách dễ dàng và những giải pháp hỗ trợ đưa ra quyết định mô phỏng thành các module trong bộ công cụ này đặt trong phần “hỗ trợ quyết định”.

Một chủ đề được nhiều người quan tâm hiện nay là tín hiệu GPS khi yếu tố này hiện nay đang được sử dụng rộng rãi trong đời sống. Báo cáo “Ứng dụng thuật toán nội suy định vị vệ tinh trong việc thực hiện phát các tín hiệu GPS trong phòng thực nghiệm” của các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Đông Á, Đại học Điện lực, Đại học Mỹ tại Đà Nẵng đã mô phỏng tín hiệu GPS trong phòng thí nghiệm bằng cách một thuật toán nội suy định vị vệ tinh sử dụng lịch thiên văn truyền đi sẽ được ứng dụng để phát ra tín hiệu GPS gần nhất đến tín hiệu được cung cấp bởi hệ thống GPC bằng cách sử dụng các thiết bị phần cứng truyền thanh được quản lý bằng phần mềm.

Nhiều thuật toán dùng cho chữ kí điện tử cũng được trình bày tại hội thảo lần này. Nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất những hình thức kí chung cho chữ kí điện tử dựa trên các vấn đề của việc tìm ra phần số căn của các số nguyên tố lớn. Việc xây dựng một cơ chế chữ kí điện tử dựa trên 2 vấn đề chính: thuật toán và phân tích nhân tử từ đó xây dựng các dạng chữ kí điện tử và cơ chế đa chữ kí. Các báo cáo cũng đã phân tích và mô tả tính chính xác của các thuật toán và sự bảo mật của thuật toán. Từ những nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu cũng hi vọng vào việc áp dụng các thuật toán này vào đời sống thực tế, nhằm góp phần đảm bảo tính bảo mật của thông tin trong xu hướng hiện nay.

 GS. Gyeung Min Kim - Chủ tịch Hiệp hội cơ sở dữ liệu Hàn Quốc báo cáo tại hội thảo.

Chủ đề: E-learning – Học tập điện tử

Báo cáo với chủ đề “Mô hình thích hợp cho việc đầu tư học trực tuyến trong thời đại công nghệ mới” của nhóm các nhà nghiên cứu Pradeep Bastola, Ali Abdulbaqi Ameen, Dhoha Abdull–Mnim Younis, Neupane Chanda, trường ĐH Lincoln đã nghiên cứu về E-learning - một mô hình đào tạo trực tuyến, sử dụng những công cụ trên mạng internet, chuyển đổi từ phương pháp dạy và học truyền thống sang một phương pháp mới, đáp ứng được nhu cầu của người học trực tuyến, hỗ trợ tốt hơn cho việc học tập hiện đại.

Với chỉ khoảng 50% so với chi phí giáo dục chính quy, hình thức này có chi phí rẻ, tiết kiệm và không ảnh hưởng đến thời gian làm việc, tích hợp đầy đủ các phương tiện truyền thông đa dạng như: hình ảnh, âm thanh, máy tính… đã thu hút được nhiều người sử dụng.

Nếu năm 2009, E-learning thu về lợi nhuận khoảng 27 tỷ đô la thì chỉ sau 5 năm, con số lợi nhuận đã tăng lên hơn 50 tỷ đô la. E–learning phát triển với tốc độ chưa bao giờ thấy trong lịch sử 10 năm qua và hứa hẹn sẽ còn tiếp tục tăng nhanh trong tương lai. Một ví dụ điển hình là 40 doanh nghiệp của Fortune 500 hiện đang sử dụng hình thức E-learning để đào tạo và hướng dẫn cho nhân viên. Hơn ¾ người sử dụng lao động cho rằng đây là phương pháp giúp người lao động cập nhật, cải tiến phương pháp lao động cũng như tăng lợi thế cạnh tranh trong khu vực. 2 khu vực phát triển mạnh của E-learning trong thời gian gần đây là Châu Á và Đông Âu, tiêu biểu là các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Rumani, Balan, Séc, Brazil, Indonesia, Comlombia.

Theo báo cáo “Thị trường giáo dục điện tử” cho biết, doanh thu sẽ vượt quá 327,6 tỷ đô la vào năm 2017 – một con số ấn tượng. Nghiên cứu của nhóm các nhà nghiên cứu cũng cho rằng, đây là mô hình có sự tác động đến hành vi của học sinh trong bối cảnh giáo dục hiện nay, làm thay đổi khả năng giao tiếp, tư duy và nhiều vấn đề khác.

Phiên báo cáo chuyên đề của GS Sean Watt - thành viên BTC. 

Chủ đề: Giáo dục

Nhiều chủ đề mang tính thực tiễn hiện nay cũng được trình bày tại hội thảo như “Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên tiểu học trong bối cảnh cải cách giáo dục tổng thể của xu hướng hội nhập với cách mạng công nghiệp 4.0”.

TS. Nguyễn Hoài Anh, trường Cao đẳng sư phạm Huế cho biết, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ và ảnh hưởng tích cực, tác động không nhỏ đến giáo dục. Điều đó đòi hỏi giáo viên phải tiếp cận, thích ứng và thực hành ứng dụng vào phương pháp giảng dạy.

Cùng với sự cải cách trong giáo trình giảng dạy và sách giáo khoa hiện nay, các trường đại học, cao đẳng cần phải cải cách trong chiến lược đào tạo và bồi dưỡng giáo viên nhằm đáp ứng với việc triển khai các chương trình mới. Trước những yêu cầu cần đổi mới của làn sóng cách mạng công nghiệp 4.0, tham luận dựa trên những chiến lược cải cách trong giáo dục đại cương và bậc tiểu học để đề xuất các giải pháp để triển khai việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên nhằm đáp ứng được những yêu cầu của cải cách.

Báo cáo “Vấn đề di cư, chuyển tiền và bỏ học của trẻ em ở Nepal” của TS. Neupane Bivab, Đại học Lincoln, Nepal đã chỉ ra sự liên kết của các thực trạng đang tồn tại ở Nepal do ảnh hưởng bởi sự phát triển của công nghệ và quản trị.

Theo đó, hiện trạng bỏ học giữa chừng của trẻ em ở đây là một vấn đề phức tạp trong giáo dục ở Nepal, tỷ lệ trẻ em bỏ học xảy ra phổ biến ở các hộ gia đình nghèo, thiếu điều kiện kinh tế, vùng nông thôn. Đồng thời ông cũng phân tích dựa trên kết quả nghiên cứu khi nhiều vấn đề từ việc di cư của người dân và chuyển tiền đã tăng lên đáng kể, trong khi đó tỉ lệ tuổi đi học của trẻ vị thành niên giảm dần trong cùng khoảng thời gian.

Kết quả này chỉ ra việc di cư và chuyển tiền mặc dù đóng vai trò lớn dịch chuyển sự thay đổi về nguồn nhân lực, tuy nhiên đã ảnh hưởng rất lớn đến việc bỏ học của trẻ em ở Nepal. Từ nghiên cứu này, TS. Bivab cũng đề xuất vai trò chiến lược của chính phủ trong việc sử dụng tốt hơn người di cư trong việc xây dựng nguồn nhân lực vững mạnh, đồng thời xây dựng các chiến lược, chính sách và kế hoạch cần tập trung vào sản xuất và tối ưu hóa việc chuyển tiền.

Cũng bàn về vấn đề giáo dục, GS. Sateesh Kumar Ojha, Đại học Tribhuvan sẽ trình bày tại hội thảo với chủ đề “Tình trạng quản lý chất lượng toàn diện trong giáo dục ở Nepal”. Những nghiên cứu này góp phần đánh giá chất lượng của các tổ chức đào tạo những công dân có năng lực và đạt trình độ kỹ năng, cải thiện và phát triển xã hội. Tại Nepal, trong những năm trở lại đây, các tổ chức giáo dục phát triển mạnh như Đại học Tribhuvan, Đại học Mahendra Sansrit, Đại học Lumbini Bauddha…

Từ sự phát triển và cạnh tranh về phát triển công nghệ và hỗ trợ các ngành sản xuất và dịch vụ ở các tổ chức giáo dục đại học ở Nepal, GS Ojha đã phân tích những nỗ lực nhằm tăng cường giáo dục gắn liền với chính sách khoa học và công nghệ của chính phủ nước này qua một loạt nỗ lực như kế hoạch hệ thống giáo dục quốc gia -1971 (NESP), chính sách khoa học và công nghệ - 2005, thành lập các tổ chức giải quyết các vấn đề của công nghệ như RECAST -1977, RONAST -1982, Bộ khoa học và công nghệ 1995 cùng nhiều trường đại học, ngân sách đầu tư về khoa học.

Điểm quan trọng nhất của báo cáo, GS. Ojha khẳng định vấn đề giáo dục không thể tách rời với công nghệ để thúc đẩy sự phát triển của một nước, từ đó đề xuất với chính phủ về các chính sách nhằm nâng cao nền giáo dục thông qua lấy người họcvà các tổ chức giáo dục làm trung tâm, ưu tiên và khuyến khích nghiên cứu khoa học kèm các chính sách hỗ trợ cho các nhà khoa học ở tất cả lĩnh vực, cần ưu tiên đến ngân sách đầu tư cho khoa học và công nghệ, ví dụ điển hình ở Nhật Bản là 3,12% GDP, Mỹ là 2,65% GDP, nhưng ở Nepal chỉ mới chiếm 0,34% GDP….

Đồng quan điểm với GS. Ojha, báo cáo “Đánh giá phê bình về cách tiếp cận khoa học và khách quan trong nghiên cứu” của GS. Yashodham Tripathi đã nhấn mạnh đến yêu cầu  khuyến khích tiếp cận yếu tố nghiên cứu khoa học trong nghiên cứu và ứng dụng.

Đây được xem là nền tảng cơ bản đóng góp vào thành công trong nghiên cứu. Dựa trên nhiều quan điểm khác nhau của nhiều học giả về cách tiếp cận khoa học trong nghiên cứu với nhiều cách tương đồng hoặc khác nhau, học giả Tripathi cũng nhấn mạnh cách tiếp cận khoa học là bản chất trong nghiên cứu khoa học, với 6 đặc điểm gồm: xác minh, xác định, tính khách quan, tính tổng quát, phương pháp hệ thống và dự đoán.

Điều hành phiên báo cáo chung của ITAM là TS Kanes Rajah - Giám đốc điều hành Trung tâm Điều hành và Phát triển nghề nghiệp London, Anh quốc.

Chủ đề: Du lịch hiện đại

Báo cáo “Ảnh hưởng của thiết bị công nghệ đối với sự phát triển của ngành du lịch ở Nepal” của 2 nhà nghiên cứu Rijal và Prashanta Babu Neupane cho rằng: Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đã tạo nên nhiều tác động đến sự phát triển du lịch của nhiều nước trong nhiều năm trở lại đây.

Một dẫn chứng cho thấy về sự ảnh hưởng của thiết bị công nghệ đối với sự phát triển của ngành du lịch ở Nepal là hầu hết những trải nghiệm về du lịch đều xuất phát thông qua công nghệ tìm kiếm khiến cho ngành du lịch của nước này ngày càng trở nên đáng tin cậy, tạo nên những bước đột phá về công nghiệp dịch vụ. Với lợi thế nền văn hóa đa dạng và nhiều kỳ quan đẹp, Nepal được xem là “điểm đến lý tưởng nhất”, xếp thứ 5 trong 10 nước đáng tham quan năm 2017. Sự phát triển của công nghệ hiện đại đã mở đường và tác động sâu sắc cho sự phát triển nhanh chóng ngành du lịch Nepal,hứa hẹn việc sử dụng công nghệ hiện đại trở thành một lợi thế cạnh tranh trong ngành du lịch.

Và chủ đề: Đổi mới kinh doanh

Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra tác động của sự phát triển công nghệ và quản trị đã ảnh hưởng đến chất lượng đời sống của người dân, từ đó chỉ ra những vấn đề thách thức và phương pháp để cải thiện.

Báo cáo về “Chất lượng phục vụ và sự hài lòng khách hàng của hãng hàng không Nepal” của nhà nghiên cứu Bishnu Prasad Jamkatel, Trường ĐH Lincoln, Nepal cho biết: Thị trường hàng không dân dụng Nepal đã thay đổi đáng kể từ những năm 1990 khi chính phủ Nepal đưa ra chính sách mở cửa vùng lãnh thổ trên không, kéo theo sự cạnh tranh về giá vé với chất lượng dịch vụ để thu hút khách hàng, tăng doanh thu và lợi nhuận.

Thông qua khảo sát, thảo luận về các yếu tố chất lượng dịch vụ liên quan đến sự hài lòng của khách hàng tại Sân bay Quốc tế Trihuvan đã chỉ ra rằng, khách hàng của các hãng hàng không rất quan tâm các vấn đề như: thủ tục kiểm tra và vận chuyển hành lý (12%), thời gian khởi hành, dịch vụ sân bay(9%)….

Ở một lĩnh vực khác của ngành dịch vụ, báo cáo “Nghiên cứu tình trạng điều hành và quản lý khách sạn 5 sao” của 2 học giả Roopesh Shrestha và Sanjay Kumar Jha, trường CĐ Lincoln, Malaysia dựa trên nghiên cứu tập trung vào phân tích về nền tảng kiến thức quản lý khách sạn 5 sao ở Nepal. Quản lý nhân lực được xem là một chủ đề khá mới trong ngành khách sạn ở Nepal.

Ở Nepal, hiện nay có khoảng 10 khách sạn 5 sao và con số này sẽ tiếp tục còn tăng trong thời gian sắp tới. Tuy vậy, đồng thời với đó là đặt ra những vấn đề thách thức về chất lượng dịch vụ. Việc tìm ra phương thức quản lý điều hành phù hợp tạo nên tính hiệu quả và chất lượng công việc, thu hút nhiều hơn khách du lịch để tiến đến một ngành công nghiệp du lịch ở nước này một tốt hơn, tận dụng được tối đa nguồn lực có sẵn ở địa phương sẽ góp phần vào sự tăng trưởng lĩnh vực khách sạn nói riêng và kinh tế của đất nước nói chung./.

Lược dịch và giới thiệu

In Quay lại chia sẻ bài viết
Từ khóa:

Các tin khác