Giải bài toán "Kỹ sư cầu nối" trong thu hút đầu tư vào lĩnh vực Công nghiệp CNTT

Cập nhật ngày: 29/07/2017
        Xem với cỡ chữ    

(ictdanang)- Tiếp theo thành công của Hội thảo quốc gia VietCALL “Tích hợp ứng dụng Công nghệ thông tin (CNTT) và Truyền thông vào xây dựng và phát triển đề cương môn học trong chương trình đào tạo Cử nhân Sư phạm tiếng Anh”; Hội thảo TESOL quốc tế “Giảng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ”, Hội thảo GLoCALL..., ngày 28/7, Đại học Ngoại ngữ (Đại học Đà Nẵng) tiếp tục đăng cai tổ chức Hội thảo Khoa học quốc gia “Nghiên cứu và giảng dạy bản ngữ, ngoại ngữ và khu vực học trong thời kỳ hội nhập”.

Chọn công nghiệp CNTT là lĩnh vực đột phá, ưu tiên trong thu hút FDI, nhất là FDI từ Nhật bản; TP Đà Nẵng cũng có những bước đi chủ động trong hợp tác "Giải bài toán kỹ sư cầu nối". Trong ảnh; Chủ tịch UBND TP Huỳnh Đức Thơ (người đứng thứ hai, từ bên trái sang) chứng kiến ký kết hợp tác đào tạo tiếng Nhật cho sinh viên CNTT giữa Công ty FPT và các trường Đại học trên địa bàn TP (tháng 9/2015). Người đang ký (thứ ba, từ trái sang) là GS.TS Trần Văn Nam - Chủ tịch Hội đồng Đại học vùng, Giám đốc Đại học Đà Nẵng.

Giải bài toán kỹ sư cầu nối trong thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp CNTT


Vấn đề dạy tiếng Nhật đối với chuyên ngành IT – một yêu cầu bức thiết để xây dựng đội ngũ kỹ sư cầu nối trong lĩnh vực công nghiệp CNTT, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang đón đầu làn sóng chuyển dịch dòng vốn đầu tư lĩnh vực này của các doanh nhân Nhật, thay vì Trung Quốc, Ấn Độ là Việt Nam – đã được bàn thảo sâu qua tham luận Hiệu quả của giờ học đảo ngược trong giảng dạy tiếng Nhật chuyên ngành IT (tác dụng đối với năng lực thuyết trình) của tác giả Nguyễn Song Lan Anh (Đại học Hà Nội) và Lê Thị Ngọc (Đại học Bách khoa Hà Nội).

Các tác giả nhấn mạnh: Nhà đầu tư, doanh nghiệp Nhật Bản không chỉ yêu cầu kỹ sư nắm vững chuyên môn về IT, mà còn đòi hỏi kỹ sư phải giao tiếp tốt bằng tiếng Nhật (đặc biệt là tiếng Nhật chuyên ngành) khi làm việc.

Mục tiêu mà nhiều sinh viên chuyên ngành IT tiếng Nhật hướng tới là sau khi tốt nghiệp đại học, họ có thể trở thành một kỹ sư cầu nối. Hoạt động giao tiếp chiếm tới 90% thời lượng công việc của một kỹ sư cầu nối. Cụ thể, đó là làm việc với dòng lệnh, giao tiếp với Team member, giao tiếp với cấp trên, giao tiếp với khách hàng... bằng tiếng Nhật.

Những hoạt động giao tiếp này đòi hỏi người kỹ sư không chỉ sử dụng tiếng Nhật thông thường mà còn phải thành thạo cả tiếng Nhật trong chuyên môn (gọi là tiếng Nhật chuyên ngành IT).

Tại Chương trình Việt Nhật (tên tiếng Anh viết tắt là Hedspi) thuộc Viện Công nghệ thông tin và Truyền thông, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội có đưa vào chương trình giảng dạy môn học tiếng Nhật chuyên ngành IT.

Sinh viên ở đây ngoài các môn học chuyên môn IT còn được học cả tiếng Nhật để phục vụ cho công việc sau khi tốt nghiệp. Chưa có con số thống kê cụ thể nhưng lượng từ chuyên ngành mà một kỹ sư IT cần nắm được để có thể làm tại Nhật hay tham gia các dự án IT liên quan đến doanh nghiệp Nhật Bản lên đến vài nghìn từ.

Chính vì vậy, làm thế nào để người học có thể hiểu, nhớ từ và vận dụng giải thích các kiến thức chuyên môn bằng tiếng Nhật chính là điều chúng tôi trăn trở.

Nhìn lại phương pháp giảng dạy môn tiếng Nhật IT tại chương trình Việt Nhật theo giờ học truyền thống, các tác giả thẳng thắn nhìn nhận:

Đà Nẵng luôn luôn "khát" nguồn nhân lực công nghiệp CNTT có kỹ năng ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Nhật. Ảnh minh họa.
Người học tiếp thu kiến thức một cách thụ động thông qua sự truyền đạt của giáo viên về những kiến thức liên quan đến từ vựng. Với cách dạy này, người học có thể biết vài chục từ vựng, đọc hiểu được vài trang tài liệu tiếng Nhật sau một buổi học, nhưng lại gặp khó khăn khi diễn đạt một vấn đề liên quan đến chuyên ngành của mình.

Thậm chí, sau học xong trên lớp, người học dù về nhà tích cực ôn lại từ nhằm phục vụ cho bài kiểm tra nhỏ ở buổi kế tiếp trên lớp, nhưng lại thường có xu hướng không nhớ các từ vựng sau khi đã hoàn thành các bài kiểm tra nhỏ đó. Mặt khác, vì thời lượng trên lớp là khá ít (từ 2~4 tiết/1tuần) nên người học bị hạn chế trong việc tiếp nhận thêm kiến thức mở rộng của bài học, dẫn đến khó khăn khi ứng dụng thuật ngữ vào thực tế một cách linh hoạt.

Đề xuất “Giờ học đảo ngược” của 2 tác giả là “Giờ học có trật tự đảo ngược với giờ học truyền thống.

Nếu như ở giờ học truyền thống, trước tiên giáo viên truyền thụ kiến thức trên lớp, người học thụ động tiếp nhận, sau đó sẽ ôn lại ngoài giờ để củng cố kiến thức đã học thì ở giờ học đảo ngược, người học chủ động tiếp nhận kiến thức trước giờ học thông qua các tài liệu điện tử như video, power point bài giảng... liên quan đến bài học được giáo viên cung cấp trước mỗi giờ học.

Trên lớp, thay vì ngồi nghe giảng thì người học sẽ tham gia trình bày, thảo luận về kiến thức mình đã tiếp nhận được thông qua các bài giảng mình đã tìm hiểu trước khi đến lớp. Mô hình học tập mới này đang được kỳ vọng sẽ giúp người học nâng cao hứng thú học tập, có tư duy sáng tạo, chủ động trong việc thụ đắc kiến thức. Trong nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện giờ học đảo ngược trong việc giảng dạy thuật ngữ chuyên ngành IT và đánh giá hiệu quả của giờ học”.

Qua bài tập cuối cùng sau những giờ học đảo ngược, kết quả đánh giá đã cho thấy sự biến đổi mang tính tích cực của người học trong bài thuyết trình sau một thời gian tham gia khóa học đảo ngược.

Ngay chính người học cũng nhìn nhận nhiều ưu điểm của giờ học đảo ngược so với giờ học truyền thống.

Đó là thúc đẩy năng lực tự học; hướng người học đến sự chủ động tiếp cận với kiến thức; tạo ra nhiều hơn cơ hội học tập bình đẳng; khơi dậy hứng thú học tập; cải thiện các kỹ năng mềm như: kỹ năng tìm kiếm, phân tích và xử lý thông tin, kỹ năng tìm hiểu và giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm.
Báo cáo khoa học “Xây dựng đường hướng Kiến tạo-Hành động trong Dạy-Học Ngoại ngữ“ của Phó GS.TS Nguyễn Lân Trung Đại học Ngoại ngữ (Đại học quốc gia Hà Nội), đã được chọn báo cáo mở đầu cho phiên làm chung (sáng nay). Tác giả cũng khẳng định: Trong xây dựng quy trình công nghệ, phục vụ đổi mới nội dung/phương pháp dạy-học ngoại ngữ, dứt khoát, không thể thiếu quy trình ứng dụng CNTT.



Với kết quả này, có thể nói nghiên cứu và đề xuất của 2 tác giả đã có đóng góp ý nghĩa cho việc đề xuất phương pháp giảng dạy hiệu quả đối với môn học thuật ngữ chuyên ngành nói chung và thuật ngữ tiếng Nhật IT nói riêng.

Mặc dù vẫn có một số hạn chế nhất định, song những ưu điểm của mô hình mới này đang được kỳ vọng sẽ mang đến luồng gió mới làm thay đổi tư duy giáo dục hiện đại ở tất cả các cấp học.

Đổi mới phương pháp và nội dung từ ứng dụng Truyền thông

Nếu ứng dụng CNTT đã được đề cập nhiều, thì tại Hội thảo Khoa học quốc gia “Nghiên cứu và giảng dạy bản ngữ, ngoại ngữ và khu vực học trong thời kỳ hội nhập”, ứng dụng Truyền thông được xem như góc nhìn mới cho vấn đề đổi mới phương pháp và nội dung trong giảng dạy và học tập tiếng Anh. Có thể kể đến các tham luận khoa học: Khai thác tư liệu trên báo tiếng Anh trong việc dạy thực hành tiếng cho sinh viên chuyên ngữ (Nguyễn Thị Thanh Hương-Học viện Báo chí và Tuyên truyền); Xây dựng kế hoạch tiếp thị và thiết kế và thiết kế quảng cáo truyền hình trong quá trình dạy và học tiếng Anh (Hứa Thị Tin-Đại học Đà Lạt).

Có thể khẳng định cùng với các ứng dụng truyền thông, công nghệ nói chung, CNTT nói riêng ngày càng được khẳng định là chìa khóa, là nền tảng có ý nghĩa quyết định trong đổi mới và nâng cao việc dạy-học ngoại ngữ.

Các tham luận: Mô hình nghiên cứu chấp nhận ứng dụng CNTT và Truyền thông trong việc học ngoại ngữ (Nguyễn Hữu Bình – Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng); Niềm tin của giáo viên về việc ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả và học tập tiếng Anh (Trần Thị Thu Hiền- Học viện Nông nghiệp Việt Nam); Một số điều chỉnh trong khóa học nghe và hứng thú học kỹ năng nghe của sinh viên năm thứ nhất chuyên ngành tiếng Anh-Đại học Hùng Vương (Ngô Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Ngọc Thủy); hay Một số kinh nghiệm về đổi mới phương pháp giảng dạy tiếng Anh trong chiến lược đào tạo của trường tiên tiến theo xu thế hội nhập quốc tế (Phạm Ngọc Diễm-Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh) đã chia sẻ nhiều quan điểm và đề xuất giải pháp rất cụ thể.

Thay đổi căn bản để giảm thách thức, tăng cơ hội trong hội nhập sâu rộng

Trong báo cáo của mìn), Phó GS.TS Nguyễn Lân Trung – đại diện cho Đại học Ngoại ngữ (Đại học quốc gia Hà Nội), đồng thời là Phó Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Việt Nam đã thẳng thắn cho rằng:

Hình như việc dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam vẫn còn những lúng túng nhất định trong việc xác định các hướng đi chung, thiếu một sợi chỉ xuyên suốt của một đường hướng dạy và học ngoại ngữ tiên tiến, nhưng phù hợp với bối cảnh và điều kiện của Việt Nam, văn hóa Việt Nam.

Sự thiếu hụt này đã phần nào ảnh hưởng đến  việc tiếp cận những thành tựu của thế giới trong lĩnh vực giáo dục ngoại ngữ, cản trở những nỗ lực đi lên của cả một đội ngũ, và đặc biệt tác động đến việc xây dựng một phương pháp dạy và học ngoại ngữ hiệu quả dành cho Việt Nam, mà những người dạy, người học Việt Nam dễ có điều kiện áp dụng, ứng dụng, một cách tiếp cận phù hợp với tâm lý và văn hóa Việt Nam.

Nền giáo dục Việt Nam đang đòi hỏi phải có sự “đổi mới căn bản và toàn diện”. Giáo dục ngoại ngữ không thể nằm ngoài tiến trình ấy, thậm chí với đặc thù của mình, đổi mới giáo dục ngoại ngữ còn có thể được coi là khâu đột phá.

Phó GS.TS Nguyễn Lân Trung: Nhà trường phải tích cực hóa tối đa người học.

Trong báo cáo khoa học “Xây dựng đường hướng Kiến tạo-Hành động trong Dạy-Học Ngoại ngữ“ của mình, Phó GS.TS Nguyễn Lân Trung cho rằng, định hướng cơ bản của đường hướng là (chuyển đổi, thay đổi, để tạo nên) “Quá trình người học một ngoại ngữ tự kiến tạo lên kiến thức; trải nghiệm kiến thức và sử dụng kiến thức. Kỹ năng tạo lập được để hành động bằng ngôn từ của một tiếng nước ngoài (mà người học theo học) phải tác động trở lại thực tế khách quan bên ngoài, đồng thời, nâng cao nhận thức tư duy của bản thân mình lên một tầm cao mới. Và để có được như thế, Nhà trường phải tích cực hóa tối đa người học.

Nếu như các phương pháp và đường hướng trước đây tập trung vào mục tiêu “học cách biểu đạt bằng ngoại ngữ với người khác”, “thực hiện thành công các kỹ năng biểu đạt” và “đề cao vai trò của cá nhân người học”; thì quan điểm hành động “nhấn mạnh mục tiêu học cách tương tác, ứng xử bằng ngôn từ (ngoại ngữ) với người khác,…Người học từ tư cách là”người sử dụng”, “người biểu đạt” phải chuyển sang là người đối thoại, là tác nhân cho xã hội.

Như vậy “người dạy, từ “tư cách cố vấn, định hướng” cần chuyển sang “vị trí chia sẻ, tạo xúc tác”. Về phương pháp giảng dạy, từ “Quan điểm tâm lý-thực hành”, cần chuyển sang “Quan điểm xã hội-tri nhận”.

TS. Trần Hữu Phúc: Hội thảo với Tuyển tập công trình báo cáo/tham luận khoa học, đã phản ảnh trung thực toàn cảnh và đậm nét., đồng thời cũng rất trực diện về thực trạng nghiên cứu-giảng dạy ngoại ngữ, đặc biệt, có cả những vấn đề “thời sự quốc tế” được đặt ra trong bối cảnh hội nhập và hợp tác.

Một diễn đàn hội tụ sự tâm huyết và các đề xuất, kiến nghị giải pháp trực diện

TS. Trần Hữu Phúc – Hiệu trưởng Đại học Ngoại ngữ (Đại học Đà Nẵng) cho biết, hội thảo đã nhận được sự quan tâm sâu sắc và tham gia nhiệt thành của các Nhà Khoa học, các Giảng viên đến từ các Viện Nghiên cứu, các Đại học Ngoại ngữ, Sư phạm trên cả nước.Ban Chuyên môn và Hội đồng phản biện đã đọc và thẩm định các báo cáo khoa học, tham luận gửi đến hội thảo, sau đó đã quyết định chọn 67 báo cáo/tham luận đăng toàn văn trong Tuyển tập công trình.

“Các tác giả đã thể hiện rõ những tâm huyết với chủ đề “Nghiên cứu và giảng dạy bản ngữ, ngoại ngữ và khu vực học trong thời kỳ hội nhập” và do vậy, báo cáo/tham luận gửi về rất đa dạng. Đó là vấn đề giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài; Văn hóa Việt nam và các nước trên thế giới; So sánh và đối chiếu các ngôn ngữ; Các xu thế trong nghiên cứu quốc tế học và khu vực học; Phương pháp giảng dạy ngoại ngữ và ứng dụng CNTT vào giảng dạy ngoại ngữ,.v.v. Tuyển tập công trình đã phản ảnh trung thực toàn cảnh và đậm nét., đồng thời cũng rất trực diện về thực trạng nghiên cứu-giảng dạy ngoại ngữ, đặc biệt, có cả những vấn đề “thời sự quốc tế” được đặt ra trong bối cảnh hội nhập và hợp tác”- TS. Trần Hữu Phúc nhấn mạnh.

Bài và ảnh: T.Ngọc

In Quay lại chia sẻ bài viết
Từ khóa:

Các tin khác