Kể chuyện “Góc sân Đảo Chìm, khoảng trời Trường Sa” ở quê hương Hoàng Sa

Cập nhật ngày: 27/07/2017
        Xem với cỡ chữ    

(ictdanang) – Dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh-Liệt sỹ (27 tháng 7 năm 1947 - 2017, Tuần lễ Sách Sơn Trà (vừa diễn ra từ ngày 6 đến 10/7/2017) có một điểm nhấn rất đặc biệt: Chương trình giao lưu giữa một nhà thơ là “Cựu binh Trường Sa” với độc giả. Và 1 trong 2 tác phẩm được nhà văn ấy chọn giới thiệu với công chúng là “tiểu thuyết mini” (chữ dùng của chính tác giả): Đảo Chìm.

Bìa cuốn Đảo Chìm, xuất bản tháng 2/2016, lần tái bản thứ 31 của tác phẩm. -Ảnh: T.N. 
Đảo Chìm là tập truyện, trong đó “trái tim” của tập truyện là tiểu thuyết mini Đảo Chìm – nơi chính nhà thơ Trần Đăng Khoa từng “làm lính giữ cái đảo “và đảo chỉ là cái dải nước xanh phơn phớt nằm dưới chân lều bạt kia".

Tên đúng của đảo là Đảo Thuyền Chài, còn Đảo Chìm là tên do ông đặt nên.

Tập truyện này được xuất bản lần đầu năm 2000 và sớm được Nhà văn Lê Lựu “sắc phong” hai chữ “Thần bút”. Đến năm 2009, tập truyện đã được tái bản đến lần thứ 25 (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đã ghi nhận sự kiện này như một kỷ lục về Sách của Việt Nam).

Cuốn Đảo Chìm mới nhất, đang có mặt trên các hiệu sách, xuất bản tháng 2/2016. Và đây là cuốn tái bản lần thứ 3 của Nhà Xuất bản Kim Đồng và lại là lần tái bản thứ 31 của tác phẩm.

Đọc xong Đảo Chìm, nhà thơ Bùi Hoàng Tám từng đưa ra lời bình như thâu tóm hết “cái thần bút” mà nhà văn Lê Lựu muốn nói đến: Nếu cách đây nửa thế kỷ, cái “Góc sân và Khoảng trời” ở làng Điền Trì, quê Khoa *, làm nên một thần đồng Trần Đăng Khoa, thì sau đó, với tuyển tập thơ và văn xuôi “Đảo Chìm – Trường Sa này”, Trần Đăng Khoa đã tạo dựng được một “vương quốc” cho riêng mình. Anh từng “xí phần” cả cái “khoảng trời” không chỉ của làng Điền Trì để rồi chọn cho mình cả quần đảo Trường Sa để “cát cứ”.

Trường Sa, dù chỉ có “đá-sỏi-gió” cũng là “tấc đất hương hỏa” Ông cha để lại

Nơi nhà thơ Trần Đăng Khoa “cát cứ” ấy là một “Góc sân Đảo Chìm của Khoảng trời Trường Sa“ thiêng liêng.

Ông viết trong Đảo Chìm: Hòn đảo tôi dẫn bạn tới còn chưa có cả cát. Nghĩa là chưa có gì cả. Nó đang là một vỉa san hô ngầm còn chìm sâu dưới nước, như một cái bào thai. Bởi thế, những người lính biển của chúng ta đã phải dựng chòi bảo vệ bạt giữa sóng gió hoang vu để canh giữ bảo vệ.

Nhiều đêm ngồi trên cái chòi bạt này, giữa một bầy mây nước hỗn mang, tối cứ ngỡ mình đang trôi dạt về thời tiền sử, đang chứng kiến cái phút giây sinh thành của trái đất. Hòn đảo vẫn réo gầm dưới sóng. Nó như đang giãy giụa, quẫy đạp, muốn xé toang cái bầu nước âm u vây bọc kia để ra đời…“.


Thế nhưng, ngày đêm, giữa nắng và gió, giữa những cái nghiệt ngã không cùng của Trường Sa, đến nước ngọt cũng phải chia theo khẩu phần được định lượng rõ ràng; những người lính phải hoàn thành nhiệm vụ giữ đảo (giữ "một vỉa san hô ngầm còn chìm sâu dưới nước" hay "cái dải nước xanh phơn phớt ở đây" – trích Đảo Chìm) bằng mọi giá.

Vị tư lệnh thân thương của lính đảo (Giáp Văn Cương**) đã nhiều lần nói với các chiến sỹ những lời tự gan ruột của chính ông: Chúng mày khổ quá ! Tao biết ! Chẳng ai nỡ đày đọa chúng mày. Những khổ nổi đây lại là Tổ quốc, là đất đai hương hỏa của ông cha, thì dù chỉ có đá sỏi gió cát thế này, bố con mình cũng phải giữ, một tấc không đi, một ly không rời, dẫu có phải đổi bằng xương máu …". Quân lệnh như sơn, đã là người lính thì chỉ có một sự lựa chọn: Chấp hành.

Nhưng với Trần Đăng Khoa, không chỉ có quân lệnh mới khiến người lính chấp nhận mọi điều nghiệt ngã ấy. Ông (cũng như đồng đội đang giữ đảo) nhìn nhận rằng, Tổ quốc Việt Nam trên bản đồ thế giới, trông như một bà mẹ gầy gò đội nón lá, lưng còng gập, có lẽ vì phải gánh quá nhiều sứ mệnh lịch sử. Bà mẹ đáng thương ấy vẫn lặn lội thân cò, bước thập thững bên bờ sóng. Tấm lưng còng gập quay ra biển Đông.

Cái phên dậu giữ cho tấm lưng còng ấy khỏi lạnh chính là phên dậu Trường Sa, Hoàng Sa.

Để giữ vững cái phên dậu Trường Sa (còn Hoàng Sa, “đứa con phiêu bạt” đáng thương nhất, vẫn còn bị Trung Quốc chiếm giữ trái phép), làm đúng theo lời dặn của của Bố (các chiến sỹ gọi vị tư lệnh Giáp Văn Cương thân thương như thế), đã có biết bao thế hệ gửi cả tuổi thanh xuân của mình trên những hòn đảo của Trường Sa, khúc ruột của Tổ quốc giữa mênh mông đại dương.

Trong Đảo Chìm, tác già Trần Đăng Khoa có ghi lại câu chuyện cảm động về lời thể giữ đảo của một chiến sỹ canh giữ đảo quê ở Nghệ An "tóc đỏ quạch như tôm luộc, da đen cháy, người chắc nịch như một thỏi sắt đã tôi qua lửa". Người chiến sỹ ấy không xin tư lệnh thêm súng, thêm đạn, thêm áo quần, lương thực (để sống và giữ đảo), mà chỉ xin Tư lệnh "Bố cho con mượn tạm cái xẻng. Chỉ ba tiếng là con giấu xong đảo thôi. Mà không đến ba tiếng đâu. Chỉ tiếng rưỡi đồng hồ là con xúc xong chỗ cát này cho xuống biển, đố kẻ thù nào nhìn thấy đảo, có muốn cướp đảo cũng chịu" ...

Vị Tư lệnh đã cười vang và sau đó ông trao cho người lính một chiếc xẻng công binh "Tớ tặng luôn cậu đấy để cậu giấu đảo".

Trong tầm mắt ông nhìn theo, người lính ấy không chôn giấu đảo như anh nói. Bằng chiếc xẻng của Tư lệnh trao cho, anh khẽ bẩy từng tảng đá san hô chìm sâu dưới mấy mét nước, lụi cụi khuân lên, đắp quanh chân đảo, giữ cho cát khỏi bay …

"Báo cáo Bố, con mở mang bờ cõi ạ ! Con chỉ "buông neo" cho Tổ quốc khỏi bị trôi dạt thôi ạ !".

“Trường Sa, nói theo chữ các cụ ta xưa thì nó là một dải cát dài …(Trần Đăng Khoa viết). Và ông đã có những tháng năm, cùng đồng đội, những chiến binh giữ Trường Sa, ra sức làm cho nó vươn dài ngạo nghễ như thế.

Đảo Chìm không là tác phẩm mới, nhưng tính thời sự bền vững của chủ quyền biển đảo, đã thu hút mọi sự tập trung theo dõi từ hàng ghế khán giả đến dự giao lưu. Trong đó, có các chiến sỹ Vùng 3 Hải quân-Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và các anh đã cảm nhận được trong tâm can, những gì đồng đội mình phải gánh chịu, phải đối mặt ở Trường Sa.

Chọn Đảo Chím (và tập thơ Góc sân và Khoảng trời) để giao lưu cùng công chúng, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã gửi gắm được rất nhiều điều mà suốt những tháng năm “đối diện với chiến tranh”, giờ đây ông muốn nói với độc giả Đà Nẵng – quê hương của Hoàng Sa.

Xem như, lần lỗi hẹn trước đó (năm 2016, tại Tuần lễ Sách Sơn Trà năm đầu tiên, Ban Tổ chức có mời ông vào dự và giao lưu, nhưng do công việc riêng, ông không vào Đà Nẵng như đã hứa trước đó); ông đã “xí xóa” với người yêu sách, với những ai quan tâm đến chủ quyền biển đảo và với những ai luôn nặng lòng “giáo dục cho thế hệ trẻ ngày nay lòng yêu nước, …”.

Sao mà khắc nghiệt thế, Trường Sa ơi !

Nhà thơ Trần Đăng Khoa kể: Tôi đến hòn đảo này lần đầu vào những năm 70 của … thế kỷ trước. Lúc bấy giờ, Trường Sa nghèo lắm. Một dải cát chang chang nắng. Nắng đến nhức mắt. Trên đảo cũng có cây. Chỉ có một loại cây thôi. Đó là loại cây dại sống được trên đá san hô. Lính gọi là Phong ba. Cái tên ấy là do lính đặt. Nghe rất dữ dội, vất vả và gian nan. Nhiều đảo còn không có cây. Bóng râm duy nhất tỏa xuống mặt cát bỏng là bóng dáng người lính.

Ông nhận ra: Người lính ở đất liền còn có đất và rừng che chở. Đất thành chiến hào và rừng ngụy trang. Nói như Tố Hữu: “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, nhưng giữa trùng khơi thì người lính có gì? Trong một bài thơ, tôi viết:Chúng tôi đứng đây trần trụi giữa đời/ Dưới chân sóng mây, trên đầu sóng nước…

Trường Sa trong xúc cảm sâu xa của nhà thơ từng là lính Trường Sa, là vùng đảo cát hoang dã. Thiên nhiên rất dữ dằn. Cát Trường Sa cũng đặc biệt. Nó chính là đá san hô tan ra. Bởi vậy, cát mặn và sắc. Dường như không cây nào chịu được. Ngay cả dừa và phi lao, từng quen với gió mặn, vậy mà đến Trường Sa cũng lụi dần, rồi cháy táp, đến nỗi có cảm giác chỉ cần đánh rơi một đốm tàn thuốc là chúng có thể cháy bùng lên thành những ngọn đuốc lớn.

Và cũng từng là lính Trường Sa, Trần Đăng Khoa cảm nhận hết những vui buồn, những lắng đọng đời thường sâu xa trong lòng người lính xa đất liền. Có những chi tiết rất đời thường nhưng đọc thì rưng rưng cảm động. Như chuyện các cô văn công mặt hoa da phấn hẳn hoi ra đảo, các cô múa hát và khâu vá cho chiến sỹ. Nhiều anh áo quần còn mới nguyên, cũng bí mật xé ra, rồi nhờ các cô vá hộ. Giữa cái khắc nghiệt đến tận cùng nơi hoang vắng ấy, bừng lên những lãng mạn đáng yêu, làm mát dịu cả một dải cát "chang chang nắng".

Dung dị trong phong cách, lối kể chuyện chân và mộc, thi thoảng pha những câu "tếu táo trí tuệ", nhà thơ Trần Đăng Khoa mang đến cho công chúng giao lưu không khí gần gũi, chan hòa và rất "dễ ngấm" vào lòng những gì ông chia sẻ... -Ảnh: T.N 


Hàng triệu độc giả đọc Đảo Chìm (và chắc chắn đã đọc đi, đọc lại nhiều lần tác phẩm) đều khó có thể quên cái chết của chiến sỹ Thiêm. Không hẳn chết vì hòn đạn, lưỡi lê của kẻ thù mà chết vì cái khắc nghiệt của Trường Sa. Nguyên do, …."tất cả chỉ lại lũ ó biển chết tiệt".

Hàng trăm con ó biển khi rùng mình, quạt cánh đã nếm xuống mặt đảo cả ngàn con rệp và cứ thế rệp sinh sôi. Ban ngày cát nóng như rang trên chảo lửa đỏ, chúng lặn sâu dưới cát, để đến đêm, khi trời mát, cát đảo nguội dần thì bò lên đi tìm thức ăn. Da thịt và máu của lính đảo, chính là thức ăn "khoái khẩu" của lũ rệp quái ác.
 
"Rệp đốt rất ngọt, không đau đớn gì, nhưng sau đó thì ngứa. Ngứa khắp người. Da thịt mẩn đỏ, rồi sưng mủ. Lính không biết chạy đâu cho thoát rệp. Họ như bầy chim cánh cụt, không có lông bao phủ, che chắn, nên bầy rệp tha hồ mở đại tiệc trên da thịt lính".

Từ đất liền, một đoàn công tác tức tốc ra đảo, nhiệm vụ duy nhất là tìm cách diệt rệp chim. Nhưng phương án phun thuốc thất bại. Thuốc chưa tới được mặt cát thì những trận gió biển cấp 5, cấp 6 đã cuốn bay sạch. Không tác dụng gì.
 
Rồi đến mùa triều dâng thường xuyên, Đảo Chìm trở thành đảo không có cát, lũ rệp cũng rất thích nghi với môi trường, chúng  "chuyển hướng lặn vào chăn chiếu, biến chăn chiếu thành hang ổ kiên cố". Mấy đêm liền, lính đảo không ngủ được…

Cái chết của chiến sỹ Thiêm – như tác giả chứng kiến và kể lại – là do … lũ rệp.

Chiến sỹ Thiêm nghĩ ra cách đem chăn xuống biển giặt, mượn nước mặn trừng trị lũ rệp. Bất ngờ, một đợt sóng mạnh ào đến, cuốn chiếc chăn ra xa. Thiêm nhào theo vớt. Nước chảy rất xiết. Thấy Thiêm chới với bên mép san hô, đồng đội Tư Xồm vội lao ra. Rồi Tư Xồm cũng bị sóng cuốn nốt. Thế là đến lượt Hai Ùm nhảy xuống cứu hai bạn. Nhưng rồi ngay lập tức, Hai Ùm cũng lại bị biển nhấn chìm. Đảo khẩn cấp báo động. Tàu trực chiến rú còi, rồi tức tốc cắt sóng tìm những người bị nạn. Chật vật mãi đến gần nửa đêm, cánh thủy thủ mới tìm vớt được Hai Ùm và Tư Xồm. Còn Thiêm thì chẳng thấy đâu cả. Có lẽ cậu ta bị sóng quật vào đá ngầm, rồi mắc lại ở một hốc đá nào đó. Mấy ngày sau cũng không tìm thấy xác…

Hai Ùm thoát được lần này, nhưng đó cũng lần cuối, may mắn còn ở bên người lính, được anh em phong tặng danh hiệu "Con cá kình" của Trường Sa… Hai Ùm có họ tên đầy đủ là Trần Văn Hai -  "Nhà thơ của đảo. Quê cu cậu nghe đâu ở cầu tõm Hà Nam, cái vùng quê quanh năm lụt lội. Cánh lính còn đồn rằng, Hai đẻ rơi dưới nước, nên cậu ta biết bơi trước khi biết bò".

Hôm giao lưu với các độc giả Đà Nẵng (tại Tuần lễ Sách Sơn Trà lần II-2017), nhà thơ Trần Đăng Khoa cò nhắc lại kể lại câu chuyện mà ông đã viết trong Đảo Chìm:

Hồi ấy, mỗi đại đội được phát một quyển lịch nhưng không biết ngày nào là ngày nào vì không có thông tin, vì thế cùng một ngày nhưng ở  mỗi đơn vị, ngày trên lịch lại khác nhau. Để tránh sự khác biệt đó, chính trị viên mới thông báo tất cả các đơn vị lấy chung một ngày để thống nhất trong các hoạt động, còn so với đất liền thì lịch của lính Trường Sa chẳng ăn nhập gì.
 
Bão biển Trường Sa, tình đồng đội, nghĩa tử nghĩa tận

Đó là một buổi chiều, không biết bao nhiêu là chim biển đều chui cả vào lều bạt – căn nhà trên Đảo Chìm – của chiến sỹ canh giữ đảo. Chúng rúc vào chăn, chen lấn với lính. Căn lều bạt trở nên chật chội, ướt át và hôi hám không chịu được.

Các chiến sỹ chưa biết chuyện gì xảy ra thì đã thấy Chính trị viên Thuận *** đi xuồng cao tốc đến Đảo Chìm và ra lệnh : Rút ngay, tất cả lên tàu. Bão biển đang đến… Vậy là sơ tán tránh bão.

Nhưng khi con thuyền sắp nhổ neo, Hai Ùm chợt bàng hoàng kêu lên:

Thôi chết tôi rồi ! Chết rồi ! Còn ba lô và đồ đạc của thằng Thiêm !

Nói xong, Hai Ùm lao xuống ngay xuông cao su để quay trở lại Đảo Chìm. Anh cố lấy cho được  ba lô và đồ đạc của đồng đội Thiêm mang theo bên mình.

Ước nguyện của anh là bằng mọi cách gửi về quê nhà của Thiêm. Người thân có thể vùi ba lô và đồ đạc xuống đất, đắp lên ngôi mộ để hương khói cho Thiêm. Chính trị viên Thuận gào lên yêu cầu Hai Ùm phải lên thuyền cao tốc và thuyền phải rời ngay Đảo Chìm, nếu không sẽ bị sóng biển cao ngất trời quật vỡ cả thuyền rồi nhận chìm.

Giữa gió mạnh, sóng lớn dần, rồi mưa như quất, giọng Chính trị viên Thuận bị át đi đến không còn nghe thấy gì, và chiếc xuồng cao su của Hai Ùm cũng chẳng còn thấy nữa… "Thế là lại thêm một người lính nữa chết ở Đảo Chìm. Người đó tại sao không phải tôi, mà lại là Hai, con cá kình của đảo. Cầu mong trước khi nước khép mặt, Hai được nhìn thấy cánh chim hải âu. Tôi bỗng thấy chóng mặt. Chính trị viên Thuận vội chạy tới đỡ vai tôi. Tôi níu tay Tư. Còn Tư thì ôm lấy cột lều. Sóng vẫn hắt qua mấy khung giường sắt, phủ lên đầu chúng tôi từng đợt nước mặn chát. Lần đầu tiên, tôi mới hiểu vì sao nước biển lại mặn đến thế. Và có lẽ không ở đâu nước biển mặn như ở Đảo Chìm. Mặn như máu" - Trần Đăng Khoa đã viết như thế. Nhiều thế hệ độc giả lại ứa nước mắt khi đọc đến đoạn này.

Không ứa sao được khi chính Hai Ùm cũng là người đã đau đáu với quan niệm rằng: Hải âu chỉ là bạn của dân thuyền chài thôi. Hải âu chỉ bay ven bờ, cách bờ chừng trăm cây số là cùng. Vì thế, đối với cánh lính biển chúng em, hải âu là ngọn hải đăng báo hiệu đất liền. Nhìn thấy hải âu là ngửi thấy “mùi” đất liền. Nếu không may, có phải hy sinh trên biển, được thấy bóng hải âu chớp qua mắt trước khi nước khép mặt thì mừng lắm, vì có thể hy vọng những mẩu xương tàn của mình sẽ được sóng táp vào đất liền.

Tác giả "Góc sân và Khoảng trời", "Đảo Chìm" ký tặng sách cho khán giả tham dự đêm giao lưu. -Ảnh: Hoàng Hiệp.


Còn tác giả Đảo Chìm ray rứt đến từng chữ: Không có cái chết nào đớn đau như ở đảo, đến một mẫu thịt xương cũng phải vật lộn với sóng gió với hy vọng sóng sẽ đẩy vào đất liền phần còn lại ấy. Đây cũng là lý do vì sao Hai Ùm phải cố lấy cho được đồ dùng của Thiêm. Ít ra còn có cái gì là “hơi hám” của người đã khuất mà hương khói.

Và ước nguyện đó của Hai Ùm – đã như một sức mạnh thần bí. Sau cơn bão biển “Vùng đảo hoang lạnh một màu khai thiên lập địa. Chiếc lều bị gió cuốn mất tấm bạt, tua tủa giương lên nền trời xám đục những rảnh xương sắt cong queo, nom rờn rợn như một con cá voi khổng lồ đã bị rỉa hết thịt”, đũa, bát của Thiêm đã bị gió bão ném đi. “Nhưng chiếc ba lô lép kẹp sũng nước thì vẫn lủng lẳng chao lắc trên cái kèo sắt cột lều”.

Sao mà khắc nghiệt thế, Trường Sa ơi ! Vậy mà có biết bao thế hệ lính đảo đã kiên cường, cầm súng canh giữ biển trời thiêng liêng ấy.  Ô hay, sao lại thế ? Bởi vì ở đây biển và trời như lồng vào nhau, lẫn trong nhau. Lòng dũng cảm và tình yêu Tổ quốc đã thành chiến hào che chở cho họ – cựu binh Trường Sa Trần Đăng Khoa viết như thế trong Đảo Chìm. Và ông gọi mỗi người – dù còn sống hay đã chết – cũng đều là những cột mốc đánh dấu chủ quyền của đảo.

Vỹ thanh

Nếu Đảo Chìm được tái bản đến 31 lần (và đã được chuyển thể thành phim truyện), thì tập thơ Góc sân và khoảng trời đã được nhiều Nhà Xuất bản tái bản đến hơn 100 lần. Trong đó gần một nửa số lần tái bản – như một kỷ lục – thuộc về Nhà xuất bản Kim Đồng. Đúng là một kỷ lục, bởi có những bài thơ trong tập thơ ấy được ông viết cách đây hơn 50 năm, khi tác giả mới 8 tuổi.

Trong chương trình giao lưu tại Tuần lễ Sách Sơn Trà 2017 (tối 6/7), một độc giả đến từ trường THCS Hoàng Sa hỏi: Bác Trần Đăng Khoa cho con hỏi, bằng cách nào mà bác viết văn, làm thơ hay như thế. Bác có thể bày lại cho con cách của bác ?.

“Tất cả bí mật nằm hết ở trong sách. Các cháu cần tập thói quen bớt chơi game trên máy tính, trên điện thoại. Dành nhiều hơn thời gian cho việc đọc sách. Sách giúp các cháu có thêm kiến thức, sách cũng giúp các cháu trau dồi nhân cách và trưởng thành. Sách là NGƯỜI THẦY lớn nhất !

Đọc sách phải tập thói quen, phải chịu khó rồi sẽ đam mê. Mê sách cũng đồng nghĩa là mình tự “đã và đang” nâng mình lên.

Thần đồng, thần đất gì cũng thế thôi, phải biết tự đào tạo chính mình. Điều đó mới quan trọng các cháu, các bạn à. Tôi chỉ là hạng xoàng, tài cán gì đâu, chỉ có mỗi cái ưu điểm là chịu khó đọc sách.

Chân trời không ở đâu xa mà ở ngay dưới chân mình. Cố gắng học hỏi mới bay lên được !” – tác giả Góc sân và Khoảng trời gửi lời khuyên chân thành đến độc giả.

Tiểu thuyết Đảo Chìm không hư cấu, bịa đặt trừ những tình tiết được cho là thủ pháp nghệ thuật cần thiết. Những gì là thực đã được tác giả mang theo nguyên trạng vào tác phẩm. Chính vì vậy, khi quay trở lại Trường Sa, việc đầu tiên là tác giả tìm đến ngay Đảo Chìm….

Nhà thơ Trần Đăng Khoa chia sẻ, tôi đứng “lặng một mình ở cái phần nền đảo cũ (đảo Thuyền Chài – Đảo Chìm của ông) mới được tôn cao, ánh mắt đăm đăm nhìn ra phía ngoài…”. Hiện thực Đảo Chìm đã khác “ Bây giờ Trường Sa đã khác. Một dải xanh rì cây trái như công viên sinh thái giữa biển Đông”. Đi cùng nhà thơ Trần Đăng Khoa ra Trường Sa lúc đó, còn có nhà văn Đào Thắng, ông cũng đứng ngây người nhìn những cây bàng quả vuông nụ sai (trên công viên sinh thái giữa biển Đông). Nụ bàng vuông tròn nảy như núm cúc áo dài mớ ba mớ bảy các chị các cô mặc đi hát đúm ở quê tôi. Các vòi hoa hoa xỉa ra các phía tím nhưng nhức như pháo hoa nghệ thuật tỏa lên trời từ bờ sông Hàn Đà Nẵng mấy đêm rồi (trích Người về Trường Sa).

Và câu chuyện “một Góc sân Đảo Chìm giữa khoảng trời Trường Sa” của ông , khi được kể ở quê hương của Hoàng Sa, cũng nhẹ nhàng đi vào lòng người đọc. Còn những ai đã đọc Đảo Chìm (như tác giả bài viết này), thì không thể không lật lại Đảo Chìm và đọc lại lần nữa. Thật kỳ diệu thay, sức sống một tác phẩm viết về khúc ruột thiêng liêng của Tổ quốc giữa đại dương mênh mông. Tình cảm mà người đọc dành cho tác phẩm ấy cũng bao la, mênh mông không cùng…

Trần Ngọc

* Quê quán Nhà thơ Trần Đăng Khoa ở thôn Điền Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
** Thượng Tướng, Tư lệnh Đô đốc Hải quân, Đô đốc Giáp Văn Cương.
** Nguyên mẫu nhân vật là Chính trị viên đảo Thuyền Chài, Trung tá Hải quân Trần Trọng Trí.

In Quay lại chia sẻ bài viết
Từ khóa:

Các tin khác